Đàn Ghi-ta của Lorca

Đàn Ghi-ta của Lorca

1/26/2015 10:39:28 PM

Phân tích bài “Đàn ghi ta của  Lor-ca”

Dưới đây là bài viết khá kĩ về tác phẩm “Đàn ghi ta của Lor-ca” của nhà thơ 

Thanh Thảo. Bài phân tích chi tiết và có sự sáng tạo trong lối cảm thụ. Mời 

các bạn cùng tham khảo.

~~~

Thanh Thảo sinh năm 1946, quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi. Sau khi tốt nghiệp khoa 

Ngữ Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông vào công tác ở chiến trường miền 

Nam thời chống Mỹ khốc liệt. Thanh Thảo được công chúng yêu văn học biết đến 

qua những tác phẩm mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến 

như Những người đi tới biển (1977), Dấu chân qua trảng cỏ (1958), Khối vuông ru-

bích (1985), Từ một đến một trăm (1988).

Thanh Thảo được coi là một nhà thơ luôn có ý thức tìm tòi cách tân cho thơ Việt 

đương đại, với xu hướng đào sâu vào cái tôi nội cảm, vận dụng phần vô thức của 

nhà thơ để có thể thấu thị được bản chất sâu thẳm của các vấn đề xã hội và thời đại. 

Từ đó, nhà thơ thăng hoa thành những lời thơ có tính tượng trưng siêu thực, gợi ra 

những liên tưởng đa chiều, đa nghĩa ở bạn đọc qua một hệ thống thi ảnh và ngôn từ 

mới mẻ. Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” được ông viết ở trại sáng tác Quân khu 

Năm-Đà Nẵng năm 1979, được công chúng biết đến lần đầu vào năm 1985 khi tập 

thơ “Khối vuông ru-bích” ra đời. Có thể xem đây là một bài thơ tiêu biểu cho kiểu 

tư duy thơ của Thanh Thảo.

Để hiểu bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca”, trước hết ta phải hiểu về nhân vật Phi-đe-

ri-co Gar-xi-a Lor-ca (1898-1936). Ông là một tài năng sáng chói của văn học Tây 

Ban Nha hiện đại, được xem là thần đồng có năng khiếu thiên bẩm về thơ ca, hội 

hoạ, âm nhạc, sân khấu, … Sau khi tốt nghiệp Đại học Luật năm 1919, Lor-ca lên 

thủ đô Madrit hoạt động nghệ thuật, trong bối cảnh đất nước Tây Ban Nha bị bao 

trùm bởi bầu không khí ngột ngạt của chế độ cai trị độc tài Pri-nô-đê Ri-vê-ra. Lor-

ca nồng nhiệt cổ vũ nhân dân đấu tranh với mọi thế lực áp chế, đòi quyền sống 

chính đáng, vừa khởi xướng và thúc đẩy mạnh mẽ những cách tân trong các lĩnh 

vực nghệ thuật. Vì thế, năm 1936, chế độ phản động thân phát xít đã thủ tiêu Lor-

ca. Từ đó, tên tuổi Lor-ca đã trở thành một biểu tượng, một ngọn cờ tập hợp các 

nhà văn hoá Tây Ban Nha và thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ 

văn hoá dân tộc và văn minh nhân loại.

Với nhà thơ Thanh Thảo, ông đã mang trong ba lô ra chiến trường những bài thơ 

của Lor-ca, qua bản dịch của Hoàng Hưng, chép trong sổ tay như ông tâm sự 

“Thực ra Lor-ca đã sống trong tôi từ những năm 1969-1970 qua bản dịch chép tay 

mà chúng tôi truyền cho nhau… Và tôi đã viết “Đàn ghi ta của Lor-ca” trong cái 

ngày rầu rầu của năm 1979 ấy. Bài thơ được viết rất nhanh và hầu như không sửa 

chữa gì thêm” (Văn học và tuổi trẻ, số tháng 3/2009). Thanh Thảo nói thêm: “tôi 

viết bài thơ trong trạng thái không nghĩ ngợi gì, một trạng thái mà vô thức chiếm 

lĩnh tôi trọn vẹn”. Điều này chứng tỏ Lor-ca đã ám ảnh tâm thức của Thanh Thảo 

trong một thời gian dài, đến ngưỡng cảm hứng, thì tự nhiên bài thơ đã ngân vang 

như một khúc giao hưởng trầm buồn với phần đệm là những giọt âm thanh luyến 

láy thiết tha li-la li-la li-la ngân lên từ cây ghi ta cổ điển.

những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn

Mở đầu cho bài thơ của mình, Thanh Thảo giới thiệu với bạn đọc hình ảnh người 

nghệ sĩ Lor-ca qua những âm thanh, sắc màu, hình ảnh có tính tượng trưng, gợi liên 

tưởng đa chiều. Ấn tượng về những tiếng đàn bọt nước sao quá mỏng manh, như 

người nghệ sĩ Lor-ca chỉ với cây ghi ta và vần thơ mang theo khát vọng tự do dân 

chủ, một mình chiến đấu với bè lũ Phrăng-cô độc tài phát xít. Đây quả là một sự 

tương phản khắc nghiệt giữa “tiếng đàn bọt nước” với “áo choàng đỏ gắt”, gợi ra 

khung cảnh một đấu trường giữa võ sĩ với bò tót. Nhưng đây không hề là cuộc đấu 

để khẳng định sức mạnh của cơ bắp, mà là một cuộc chiến đấu giữa khát vọng dân 

chủ của công dân Lor-ca với nền chính trị độc tài, của khát vọng cách tân nghệ 

thuật của chàng nghệ sĩ tâm huyết tài năng Lor-ca với nền nghệ thuật cằn cỗi già 

nua. Dù ở cương vị nào, chúng ta cũng nhận ra đây là cuộc đấu không cân sức, Lor-

ca đang rất đơn độc trên hành trình lí tưởng gian nan, soi bóng lẻ loi giữa con 

đường đời đầy nguy hiểm mà chỉ có cây đàn, tiếng hát hộ thân.

Trong cuộc đấu khốc liệt này, Lor-ca luôn bị ám ảnh về cái chết, nhưng không ngờ 

nó lại đến với ông quá sớm, đến ở cái tuổi ba tám, tuổi con người đang vào độ phát 

tiết tinh hoa! “Con chim hoạ mi Tây Ban Nha” không còn lên tiếng hót. Thanh 

Thảo đã cất lên lời thơ đầy xót tiếc ngậm ngùi:

Tây Ban Nha

hát nghêu ngao

bỗng kinh hoàng

áo choàng bê bết đỏ

Lor-ca bị điệu về bãi bắn

chàng đi như người mộng du

Lời thơ vang lên là một chuỗi tự sự, nhưng cấu trúc lại đứt đoạn như để nhằm diễn 

tả cuộc đời Lor-ca “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương”. Hình ảnh thơ tả 

thực “áo choàng bê bết đỏ” đã phản ánh hiện thực phũ phàng, tàn khốc đổ xuống 

đời Lor-ca. Cái chết bi thảm của Lor-ca là một sự kiện chính trị lớn ở Tây Ban Nha. 

Nó tạo ra một hiệu ứng dây chuyền, được Thanh Thảo diễn tả theo lối tượng trưng 

độc đáo:

tiếng ghi ta nâu

bầu trời cô gái ấy

tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi ta ròng ròng

máu chảy

Lời thơ mở ra nhiều chiều suy tưởng. Chính tác giả cũng băn khoăn tâm sự: “Tôi 

không hiểu mình tâm đắc cái gì nhất từ bài thơ này. Có thể là số phận bi thảm của 

Lor-ca nói riêng, của thơ ca nói chung chăng? Có thể là cái “tiếng đàn bọt nước” 

lúc hiện lúc tan như sự tự huỷ và tái sinh liên tục của thơ chăng? Hay là khát vọng 

tự do mà Lor-ca vĩ đại đã truyền cho tôi qua thi ca của ông” (Văn học và tuổi trẻ, số 

tháng 3/2009). Lời thơ của Thanh Thảo liên tục chuyển đổi cảm giác : từ tiếng ghi 

ta nâu vang lên âm thanh ám ảnh, như mang theo khát vọng tự do và tình yêu mà 

Lor-ca gởi trao đến mọi người, đến An-na Ma-ri-a -người yêu chung thuỷ. Lời thơ 

vang lên giai điệu ghi ta nâu vỡ ra, tan hoà thành sắc màu tượng trưng cho sự sống 

“tiếng ghi ta lá xanh biết mấy”; rồi đột ngột kết đọng thành những dòng máu thắm 

chảy ròng ròng của người nghệ sĩ Lor-ca hy sinh vì tự do và nghệ thuật.

Cái chết bi tráng của Lor-ca đã tạo ra một nỗi xót thương vô hạn đối với nhân dân 

Tây Ban Nha và nhân loại tiến bộ. Thanh Thảo cũng như bất cứ ai yêu mến nghệ 

thuật đều tiếc nuối khi những cách tân của Lor-ca đang còn dang dở:

không ai chôn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

Thanh Thảo đã lấy lời di chúc của Lor-ca “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” 

làm đề từ cho bài thơ của mình. Đây chính là di ngôn đầy tâm huyết của người 

nghệ sĩ chân chính. Lor-ca không muốn nghệ thuật của mình vì được công chúng 

yêu mến đưa lên đài danh dự, rồi vô tình sẽ trở thành một vật cản trên con đường 

sáng tạo không có giới hạn đối với thế hệ sau. Nam Cao cũng từng phát biểu rằng: 

“Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những 

nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có” (Đời thừa).

Song ý thơ của Thanh Thảo vẫn gợi ra ở người đọc nỗi băn khoăn khi người nghệ 

sĩ thiên tài Lor-ca mất đi, như dàn nghệ thuật Tây Ban Nha thiếu nhà nhạc trưởng 

tài hoa, bản giao hưởng sẽ loạn nhịp, “tiếng đàn như cỏ mọc hoang”. Đây thực sự là 

một mất mát lớn lao của nhân dân Tây Ban Nha, của nền nghệ thuật ở xứ sở Tây 

Ban cầm. Thanh Thảo chia sẻ niềm đau này bằng một hình ảnh thơ đẹp, được sắp 

đặt theo lối soi chiếu vào nhau, cho sắc màu lung linh chiếu toả :

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

Từ cách sắp đặt hình ảnh thơ này, nó tạo ra những liên tưởng có tính hiệu ứng dây 

chuyền. Giọt nước mắt tiếc thương của những người mến mộ dành cho Lor-ca như 

vầng trăng soi vào đáy giếng, lung linh, lan toả từ người này sang người khác, từ 

đất nước Tây Ban Nha lan ra cả nhân loại tiến bộ, và thêm một chuỗi nước mắt của 

Thanh Thảo góp vào, tạo ra sự cộng hưởng tình cảm ở đông đảo bạn đọc Việt Nam, 

khi nghĩ về Lor-ca với “tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm… tủi phận bạc trôi 

theo dòng nước đổ”

Dù sao thì Lor-ca cũng đã mất. Thanh Thảo cũng như bất cứ ai có lòng tưởng mộ 

thiên tài đành phải thừa nhận định mệnh phũ phàng, khi đường sinh mệnh của nhà 

thơ đã dứt. Điều quan trọng hơn, là ông đã kịp hoà vào trong dòng sông tình cảm ái 

mộ của công chúng, để tiếp tục trôi chảy với thời gian.

đường chỉ tay đã dứt

dòng sông rộng vô cùng

Lor-ca bơi sang ngang

Trên chiếc ghi ta màu bạc

Hãy để cho Lor-ca được ra đi một cách thanh thản, thoát khỏi mọi hệ luỵ, phiền 

toái của cuộc đời gian nan.

chàng ném lá bùa cô gái Di-gan

vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình

vào lặng im bất chợt

li-la li-la li-la…

Lá bùa hộ mệnh rồi cũng đến lúc không cần nữa, trái tim của bất cứ ai rồi cũng đến 

lúc bất chợt lặng yên, chỉ khác nhau là nó đến sớm hay muộn đối với mỗi cuộc đời. 

Riêng Lor-ca, dù nhịp tim của nhà thơ không còn đập nữa, nhưng dư ba con sóng 

thơ cùng với giai điệu tiếng đàn ghi ta li-la li-la li-la tha thiết mang theo khát vọng 

tự do và cách tân nghệ thuật của ông, tin rằng nó sẽ được cộng hưởng lan toả trong 

không – thời gian, neo đậu lâu dài trong tình cảm mến mộ của công chúng yêu 

nghệ thuật và trân trọng tự .

Theo lí thuyết văn học liên văn bản, bất cứ văn bản nào cũng là một liên văn bản, 

không phụ thuộc vào việc tác giả của văn bản có ý thức được điều đó hay không. 

Đọc Đàn ghi ta của Lorca, có thể thấy, mỗi từ, mỗi chi tiết, hình ảnh và cả hình 

tượng trung tâm trong đó đều là đầu mối của một quan hệ giao tiếp nghệ thuật rộng 

lớn, mà nếu thiếu tri thức về các văn bản (hiểu theo nghĩa rộng) có trước đó thì độc 

giả không thể cảm nhận được, hiểu được ý nghĩa của chúng. Lorca là nhà thơ như 

thế nào? Đàn ghi ta của ông có cái gì đặc biệt? Vầng trăng, yên ngựa, bước chân 

lang thang, tiếng hát nghêu ngao, bãi bắn, tấm áo choàng bê bết đỏ, giọt nước mắt 

vầng trăng trong đáy giếng, lá bùa cô gái di gan… là những cái gì đây? Đó có thể là 

những câu hỏi thầm vang lên trong tâm trí độc giả bình thường khi tiếp nhận bài 

thơ. Nếu không chịu bỏ cuộc trên hành trình giải mã văn bản này và quyết tìm tới 

những văn bản khác đã làm nền cho nó (theo sự chỉ dẫn của các câu thơ trong bài), 

độc giả sẽ thực sự được đền bù. Trước mắt chúng ta lúc đó sẽ là một thế giới thi ca 

chói loà của thiên tài Lorca, là bức tranh bi tráng về thân phận người nghệ sĩ trong 

một thời đại biến động như bão táp, là vẻ đẹp lung linh của nghệ thuật vượt lên trên 

mọi sự đe doạ của các thế lực bạo tàn, nguy hiểm. Từ những điều vừa thấy, nhìn 

ngược lại văn bản thơ đã tạo cơ hội mở rộng chân trời hiểu biết cho mình – bài Đàn 

ghi ta của Lorca của Thanh Thảo – ta sẽ nhận ra từ đây một sự cộng hưởng của 

những khát vọng sáng tạo, một khả năng nhập cảm sâu sắc vào thế giới nghệ thuật 

thơ Lorca, một suy nghiệm thâm trầm về nỗi đau và niềm hạnh phúc của những 

cuộc đời đã dâng hiến trọn vẹn cho cái đẹp.

Trong nửa đầu bài thơ, một không gian Tây Ban Nha đặc thù, nhất là không gian 

miền quê Andalucía yêu dấu của Lorca đã được gợi lên. Giữa không gian đó, nổi 

bật hình tượng người nghệ sĩ lãng du có tâm hồn phóng khoáng, tha thiết yêu 

người, yêu đời, nhưng nghịch lí thay, lại không ngừng đi theo một tiếng gọi huyền 

bí nào đó hướng về miền đơn độc:

những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn


tiếng ghi ta nâu

bầu trời cô gái ấy

tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

Tại sao tác giả lại có thể gợi lên được những điều ấy? – Trước hết là nhờ “đàn ghi 

ta của Lorca”. Tất nhiên, ở đây ta không nói tới một cây đàn cụ thể, dù vẫn biết 

Lorca là nghệ sĩ trình tấu rất xuất sắc ghi ta và dương cầm. Đàn ghi ta ở đây chính 

là thơ Lorca, là bản mệnh của Lorca. Đọc thơ Lorca, ta thường bắt gặp hình tượng 

một chàng kị sĩ đi mải miết, vô định dưới vầng trăng khi đỏ, khi đen, khi rạng ngời, 

khi u tối, khi nồng nàn, khi buốt lạnh,… Ta cũng thường được ngập mình trong 

phong vị, hương sắc riêng không thể nào quên được của miền quê Granada thuộc 

xứ Andalucía, nơi ngày xưa từng được xem là “một trong những vương quốc đẹp 

nhất của châu Phi” do người Ả Rập dựng nên. Ở đó có những chàng hiệp sĩ đấu bò 

tót khoác trên mình tấm áo choàng đỏ, có những cô gái di gan nước da nâu gợi tình 

tràn trề sức sống, có những vườn cam, những rặng ô liu xanh một màu xanh huyền 

hoặc. Đặc biệt, ở đó luôn vang vọng tiếng đàn ghi ta – âm thanh nức nở, thở than 

làm vỡ toang cốc rượu bình minh, tựa tiếng hát của một con tim bị tử thương bởi 

năm đầu kiếm sắc, không gì có thể bắt nó im tiếng (ý thơ trong bài Đàn ghi ta)… 

Thanh Thảo quả đã nhập thần vào thế giới thơ Lorca để lẩy ra và đưa vào bài thơ 

của mình những biểu tượng ám ảnh bồn chồn vốn của chính thi hào Tây Ban Nha. 

Nhưng vấn đề không đơn giản chỉ là sự “trích dẫn”. Tất cả những biểu tượng kia đã 

được tổ chức lại xung quanh biểu tượng trung tâm là cây đàn, mà xét theo “nguồn 

gốc”, vốn cũng là một biểu tượng đặc biệt trong thơ Lorca – người mê dân ca, 

“chàng hát rong thời trung cổ”, “con sơn ca xứ Andalucía”. Cây đàn từ chỗ mang 

hàm nghĩa nói về một định hướng sáng tạo gắn thơ với dòng nhạc dân gian, rộng 

ra, nói về một tình yêu vô bờ và khắc khoải đối với quê hương, đến Thanh Thảo, nó 

đã nhập một với hình tượng Lorca, hay nói cách khác, nó đã trở thành hình tượng 

“song trùng” với hình tượng Lorca. Cây đàn cất lên tiếng lòng của Lorca trước 

cuộc sống, trước thời đại. Nó là tinh thần thơ Lorca, là linh hồn, và cao hơn cả là số 

phận của nhà thơ vĩ đại này. Bởi thế, trên những văn bản thơ trước đây của Lorca là 

một văn bản mới của nhà thơ Việt Nam muốn làm sống dậy hình tượng người con 

của một đất nước, một dân tộc yêu nghệ thuật, ưa chuộng cuộc sống tự do, phóng 

khoáng. Hơn thế nữa, tác giả muốn hợp nhất vào đây một “văn bản” khác của đời 

sống chính trị Tây Ban Nha mùa thu 1936 – cái “văn bản” đã kể với chúng ta về sự 

bạo ngược của bọn phát xít khi chúng bắt đầu ra tay tàn phá nền văn minh nhân loại 

và nhẫn tâm cắt đứt cuộc đời đang ở độ thanh xuân của nhà thơ được cả châu Âu 

yêu quý:

Tây Ban Nha

hát nghêu ngao

bỗng kinh hoàng

áo choàng bê bết đỏ

Lorca bị điệu về bãi bắn

chàng đi như người mộng du


tiếng ghi ta ròng ròng

máu chảy

Ở trên, bài thơ của Thanh Thảo đã được (hay bị) trích theo lối cắt tỉa, phục vụ cho 

việc làm tường minh các ý thơ có trong đó. Trên thực tế, Đàn ghi ta của Lorca có 

một cấu trúc đầy ngẫu hứng, với sự tương tác, xô nhau, đan cài nhau của các văn 

bản (đã nói). Chính nhờ vậy, tiếng hát yêu đời của Lorca được Thanh Thảo gợi lại, 

càng trở nên tha thiết hơn giữa tan nát dập vùi và những ám ảnh tưởng phi lí luôn 

dày vò nhà thơ Tây Ban Nha bỗng trở thành sự tiên tri sáng suốt. Sáng tạo nghệ 

thuật của Thanh Thảo được bộc lộ rõ trên các giao điểm này. Những hình ảnh, biểu 

tượng vốn có trong thơ Lorca được làm mới để chuyên chở những cảm nhận về 

chính thơ Lorca và về thân phận các nhà thơ trong thời hoành hành của bạo lực. 

Câu thơ những tiếng đàn bọt nước ở đầu bài nếu được nối kết với các câu thơ khác 

là tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan và tiếng ghi ta ròng ròng – máu chảy, sẽ bộc lộ 

một tiềm năng ý nghĩa lớn hơn nhiều so với ý nghĩa dễ nhận thấy gắn liền với việc 

diễn tả âm thanh tuôn trào, sôi động của tiếng đàn. Tiếng đàn giống như tiếng kêu 

cứu của con người, của cái đẹp trong thời khắc bị đẩy tới chỗ tuyệt diệt. Không có 

gì khó hiểu khi dưới ngòi bút Thanh Thảo, tiếng đàn cũng có màu (nâu, xanh), có 

hình thù (tròn), có sinh mệnh (ròng ròng máu chảy), bởi tiếng đàn ở đây chính là sự 

cảm nhận của nhà thơ nay về tiếng đàn xưa. Theo đó, tiếng đàn không còn là tiếng 

đàn cụ thể nữa, nó là sự sống muôn màu hiện hình trong thơ Lorca và là sinh quyển 

văn hoá, sinh quyển chính trị – xã hội bao quanh cuộc đời, sự nghiệp Lorca. Rồi 

màu đỏ gắt của tấm áo choàng, không nghi ngờ gì, là sáng tạo của Thanh Thảo. Nó 

không đơn thuần là màu của một trang phục. Nó có khả năng ám gợi một điều kinh 

rợn sẽ được nói rõ ra trong khổ thơ sau: áo choàng bê bết đỏ *– tức là tấm áo 

choàng đẫm máu của Lorca, của bao con người vốn chỉ biết hát nghêu ngao niềm 

yêu cuộc đời với trái tim hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng, khi bị điệu về bãi bắn 

một cách tàn nhẫn, phũ phàng, phi lí (câu thơ chàng đi như người mộng du có phần 

thể hiện sự phi lí không thể nào nhận thức nổi này). Cùng một cách nhìn như thế, 

độc giả sẽ thấy những thi liệu của thơ Lorca (mà truy nguyên, một phần không nhỏ 

vốn là thi liệu của những bài dân ca Andalucía) như hình ảnh người kị sĩ đi lang 

thang, yên ngựa, vầng trăng đã thực sự được tái sinh lần nữa trong một hình hài 

mới và gây được những ấn tượng mới. Các từ miền đơn độc, chếnh choáng, mỏi 

mòn gắn với chúng đã tạo ra một trường nghĩa chỉ sự mệt mỏi, bất lực, bồn chồn, 

thắc thỏm không yên của con người khi đối diện thực sự với cái bản chất phong 

phú vô tận của cuộc sống. Với kiểu tạo điểm nhấn ngôn từ của Thanh Thảo, ta hiểu 

rằng cảm giác đó không chỉ có ở Lorca. Nó là một hiện tượng có tính phổ quát, 

không của riêng ai, không của riêng thời nào, tất nhiên, chỉ được biểu hiện đậm nét 

và thực sự trở thành “vấn đề” trong thơ của những nhà thơ luôn thắc mắc về ý 

nghĩa của tồn tại. Gồm một chuỗi âm thanh mơ hồ khó giải thích, dòng thơ li-la li-

la li-la xuất hiện hai lần trong thi phẩm một mặt có tác dụng làm nhòe đường viền ý 

nghĩa của từng hình ảnh, biểu tượng đã được ném ra chừng như lộn xộn, mặt khác, 

đảm nhiệm một phần chức năng liên kết chúng lại thành một chỉnh thể, nhằm biểu 

hiện tốt nhất cái nhìn nghệ thuật của tác giả và giải phóng bài thơ khỏi sự trói buộc 

của việc thuật, kể những chuyện đã xảy ra trong thực tế. Quả vậy, dù không có sự 

kiện nào của cuộc đời Lorca được kể lại một cách rành mạch, chi tiết, nhưng độc 

giả hiểu thơ không vì thế mà cho rằng thiếu. Cái người ta thấy đáng quan tâm lúc 

này nằm ở chỗ khác. Đó là sự tự bộc lộ của chủ thể sáng tạo khi ráo riết suy nghĩ về 

số phận đầy bất trắc của nghệ thuật và khả năng làm tan hoà những suy nghĩ ấy 

trong một thứ nhạc thơ tác động vào người tiếp nhận bằng hình thức ám gợi tượng 

trưng hơn là hình thức giãi bày, kể lể kiểu lãng mạn. Tất nhiên, chúng ta có quyền 

cắt nghĩa tại sao lại li la chứ không phải là cái gì khác. Hoa li la (tử đinh hương) 

với màu tím mê hoặc, nao lòng, từng là đối tượng thể hiện quen thuộc của nhiều thi 

phẩm và hoạ phẩm kiệt xuất trong văn học, nghệ thuật phương Tây chăng? Hay đó 

là âm thanh lời đệm (phần nhiều mang tính sáng tạo đột xuất) của phần diễn tấu 

một ca khúc, hoặc nữa là âm thanh mô phỏng tiếng ngân mê đắm của các nốt đàn 

ghi ta dưới tay người nghệ sĩ?… Tất cả những liên hệ ấy đều có cái lí của chúng!

Ở nửa sau của bài thơ, tác giả suy tưởng về sức sống kì diệu của thơ Lorca nói 

riêng và về sự trường tồn của nghệ thuật chân chính nói chung, vốn được sáng tạo 

bằng chính trái tim nặng trĩu tình yêu cuộc sống của các nghệ sĩ:

không ai chôn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh đáy giếng

đường chỉ tay đã đứt

dòng sông rộng vô cùng

Lorca bơi sang ngang

trên chiếc ghi ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái di gan

vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình

vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la…

Câu thơ không ai chôn cất tiếng đàn có lẽ đã được bật ra trong tâm thức sáng tạo 

của Thanh Thảo khi ông nghĩ tới lời thỉnh cầu của Lorca trong bài Ghi nhớ – lời 

thỉnh cầu đã được dùng làm đề từ cho bài thơ Đàn ghi ta của Lorca. Không, ở đây 

không có thao tác đối lập sắc lẻm của lí trí mà nhiều thi sĩ ưa dùng trong các bài thơ 

“chân dung” hay “ai điệu”, nhằm làm nổi bật những tứ thơ “mới” mang tính chất 

“ăn theo”. Chỉ có sự đau đớn trước cái chết thảm khốc của một thi tài mãnh liệt, mà 

xác bị quăng xuống một giếng sâu (hay vực?) gần Granada. Dĩ nhiên, ý nguyện của 

Lorca – một ý nguyện thể hiện phẩm chất nghệ sĩ hoàn hảo của nhà thơ, nói lên sự 

gắn bó vô cùng sâu nặng của ông đối với nguồn mạch dân ca xứ sở – đã không 

được thực hiện. Nhưng nghĩ về điều đó, những liên tưởng dồn tới và ta bỗng vỡ ra 

một chân lí: không ai chôn cất tiếng đàn và dù muốn chôn cũng không được! Đây 

là tiếng đàn, một giá trị tinh thần, chứ không phải là một cây đàn vật thể. Tiếng đàn 

ấy trường cửu cùng tự nhiên và hơn thế, bản thân nó chính là tự nhiên. Nó vẫn 

không ngừng vươn lên, lan toả, ngay khi người nghệ sĩ sáng tạo ra nó đã chết. Dù 

thật sự thấm thía chân lí nói trên, tác giả vẫn không ngăn nổi lòng mình khi viết ra 

những câu thơ đau xót hết mực, thấm đượm một cảm giác xa vắng, bơ vơ, côi cút, 

như cảm giác của ta khi thấy cỏ mọc hoang đang hát bài ca vắng người giữa mang 

mang thiên địa. Không phải ngẫu nhiên mà trong ít nhất hai phương án ngôn từ có 

thể dùng, Thanh Thảo đã lựa chọn cách diễn đạt không ai chôn cất chứ không phải 

là không ai chôn được! Đến lượt độc giả, giọt nước mắt vầng trăng cứ mãi làm ta 

thao thức, dù nó long lanh trong im lặng, và hình như càng im lặng trong thăm 

thẳm đáy giếng, nó lại càng long lanh hơn bao giờ hết(1).

Từ câu đường chỉ tay đã đứt đến cuối bài, nhịp điệu, tiết tấu của thi phẩm không 

còn gấp gáp và dồn bức nữa. Nó chậm rãi và lắng sâu. Điều này tuân theo đúng lô 

gích tái hiện và suy ngẫm (tạm quy về phạm trù “nội dung”) mà tác giả chọn lựa. 

Nhưng quan trọng hơn, nó tuân theo lô gích tồn tại của chính cuộc đời : tiếp liền cái 

chết là sự sinh thành, sau bộc phát, sôi trào là tĩnh lặng, trầm tư, nối theo sự mù loà, 

khủng hoảng (của xã hội loài người) là sự khôn ngoan, chín chắn… Trong muôn 

nghìn điều mà con người phải nghĩ lại khi đã “khôn dần lên”, sự hiện diện của nghệ 

thuật trong đời sống là một trong những điều khiến ta trăn trở nhiều nhất. Việc quy 

tội, kết tội cho một đối tượng cụ thể nào đó đã đối xử thô bạo với nghệ thuật không 

còn là chuyện thiết yếu nữa. Hãy lắng lòng để chiêm ngưỡng một sự siêu thoát, một 

sự hoá thân. Trên dòng sông của cuộc đời, của thời gian vĩnh cửu mà trong khoảnh 

khắc bừng tỉnh thoát khỏi mê lầm, ta tưởng thấy nó hiện hình cụ thể và dăng chiếu 

ngang trời, có bóng chàng nghệ sĩ Lorca đang bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu 

bạc. Chàng đang vẫy chào nhân loại để đi vào cõi bất tử. Chiếc ghi ta, cũng là con 

thuyền thơ chở chàng, có ánh bạc biêng biếc, hư ảo một màu huyền thoại…

Trên thực tế, cái chết của Lorca là cái chết tức tưởi do bọn phát xít Franco gây nên. 

Nhưng nhìn suốt chiều dài lịch sử, ta thấy Lorca không phải là trường hợp nghệ sĩ 

đầu tiên hay cuối cùng chịu kết cục bi thương bởi các thế lực thù địch với cái đẹp. 

Vậy phải chăng có thể xem những khổ nạn liên tục là một phần tất yếu trong định 

mệnh của họ? Hẳn Thanh Thảo đã nghĩ vậy khi viết tiếp những câu thơ thật gọn 

nghẽ, “nhẹ nhõm” và “mênh mang” (ta hãy chú ý tới điểm rơi cuối dòng thơ của 

các từ, cụm từ như đã đứt, vô cùng, sang ngang). Dù ai tiếc thương mặc lòng, đối 

với người nghệ sĩ như Lorca, khi đường chỉ tay đã đứt (đường chỉ tay như dấu ấn 

của số mệnh đóng lên cơ thể con người), chàng đã dứt khoát được giải thoát. Còn 

nuối làm chi lá bùa hộ mệnh được xem là vật tàng trữ những sức mạnh thần diệu 

mà cô gái di gan trao cho. Chàng, dứt khoát và mạnh mẽ, ném nó “chìm lỉm” (chữ 

của Hàn Mặc Tử) vào xoáy nước hư vô, như ném trái tim mình vào lặng yên bất 

chợt – cái lặng yên của sự “đốn ngộ”, cái lặng yên sâu thẳm, anh minh, mà ở đó, lời 

nói đã tan đi trong chính nó. Chàng đã đoạt lấy thế chủ động trước cái chết của 

mình. Chàng đã thắng không chỉ lũ ác nhân mà còn thắng cả chính định mệnh và 

hư vô nữa. Từ điểm này nhìn lại, ta bỗng thấy câu thơ chàng đi như người mộng du 

ở phần trên có thêm tầng nghĩa mới. Bị lôi đến chỗ hành hình, Lorca vẫn sống như 

người trong cõi khác. Chàng đang bận tâm đuổi theo những ý nghĩ xa vời. Chàng 

đâu thèm chú ý tới máu lửa quanh mình lúc đó. Chàng đã không chấp nhận sự tồn 

tại của bạo lực. Chàng chết, nhưng kẻ bất lực lại chính là lũ giết người! Ở đây, có 

một cái gì gợi ta nhớ tới sự tuẫn nạn của Chúa Giê su trên núi Golgotha (núi Sọ). 

Lại thêm một “văn bản” nữa ẩn hiện tỏ mờ dưới văn bản thơ của Thanh Thảo(2)!…

Trong đoạn thơ cuối bài vừa phân tích, người đọc càng nhìn thấy rõ hơn sự vững 

vàng của tác giả trong việc phối trí các hình ảnh, biểu tượng lấy từ nhiều “văn bản” 

khác nhau vào một tổng thể hài hoà. Tưởng không có gì chung giữa đường chỉ tay, 

lá bùa, xoáy nước và cả lặng yên nữa. Vậy mà, nhờ được “tắm” trong một “dung 

môi” cảm xúc có cường độ mạnh cùng sự suy tư có chiều sâu triết học, tất cả chúng 

trở nên ăn ý với nhau lạ lùng để cùng cất tiếng khẳng định ý nghĩa của những cuộc 

đời dâng hiến hoàn toàn cho nghệ thuật, cũng là cho một nhu cầu tinh thần vĩnh 

cửu của loài người. Là sản phẩm tinh tuý của những cuộc đời như thế, thơ ca làm 

sao có thể chết? Nó tồn tại như là hơi thở xao xuyến của đất trời. Nó gieo niềm tin 

và hi vọng. Nó khơi dậy khát khao hướng về cái đẹp. Nó thanh lọc tâm hồn để ta có 

được tâm thế sống an nhiên giữa cuộc đời không thôi xáo động, vĩnh viễn xáo 

động. Muốn mô tả nó ư? Chỉ có thể, như Thanh Thảo, sau một thoáng mặc tưởng, 

bật thốt lên: li-la li-la li-la…

Để lòng mình ngân theo chuỗi âm thanh ấy, ta hiểu rằng trong cuộc tương tranh 

không ngừng và hết sức thú vị giữa những cách diễn tả “đặc hữu” của văn học và 

cách diễn tả mang tính chất ám gợi huyền hồ của âm nhạc, cuối cùng, ở bài thơ của 

Thanh Thảo, cách diễn tả của âm nhạc đã chiếm ưu thế. Điều này hiển nhiên là một 

sự lựa chọn có ý thức. Để nói về nỗi cô đơn, cái chết, sự lặng yên, “lời” vẫn thường 

gây vướng víu, gây nhiễu. Chỉ có nhạc với khả năng thoát khỏi dấu ấn vật chất của 

sự vật khi phản ánh nó, trong trường hợp này, là phương tiện thích hợp. Tất nhiên, 

Thanh Thảo không phải đang làm nhạc mà là làm thơ. Nói nhạc ở đây không có gì 

khác là nói tới cách thơ vận dụng phương thức của nhạc – cái phương thức ám thị, 

khước từ mô tả trực quan – để thấu nhập bề sâu, “bề xa” của sự vật. Từ lâu, các nhà 

thơ tượng trưng chủ nghĩa đã hướng tới điều này. Dù không nhất thiết phải quy 

Đàn ghi ta của Lorca vào loại hình thơ nào, ta vẫn thấy nó đậm nét tượng trưng. 

Chẳng có gì lạ khi với bài thơ này, Thanh Thảo muốn thể hiện mối đồng cảm sâu 

sắc đối với Lorca – cây đàn thơ lạ lùng trong nền thi ca nhân loại ở nửa đầu của thế 

kỉ XX đầy bi kịch.

Sưu tầm
Quỳnh Liên